Giao si va giao dan
Tương quan giữa Giáo sĩ và Giáo dân trong Giáo Hội Công giáo
Chuyển hướng đột biến của Vatican II
Trong lịch sử, có một thời kỳ rất dài mà Giáo Hội được tổ chức theo hình tháp, trong đó hàng giáo phẩm có quyền cai quản, dạy dỗ và hướng dẫn nếp sống cho tín hữu, và giáo dân có bổn phận vâng phục hàng giáo phẩm để hưởng ân ích của Chúa thông qua quyền bính mà Chúa đã trao cho các tông đồ và những đấng kế vị. Vatican II đã thổi một luồng gió mới, hướng theo một nền thần học nhấn mạnh đến bản chất của Giáo Hội hơn là tổ chức phẩm trật. Giáo Hội được quan niệm là Cộng Đồng Dân Chúa (Christifideles).
“Chiều hướng thần học này đặt nổi tính bình đẳng về phẩm gía, căn tính và ơn gọi nền tảng của tất cả các Kitô hữu trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Từ đó dĩ nhiên mối tương quan giữa giáo dân với giáo sĩ được đặt lại và “tính trần thế” của các giáo dân được đặc biệt đề cao. Kitô hữu giáo dân là những người tín hữu đang dấn thân vào các sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người, trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và bằng hữu. Mảnh đất nhân bản và sinh hoạt trần thế được coi là môi trường riêng biệt, nơi người giáo dân thực hiện sứ mệnh làm người và lý tưởng kitô hữu của mình. Đây chính là môi trường Thiên Chúa gọi họ sống lý tưởng Tin Mừng, bằng chính cuộc sống chứng tá, nhằm biến đổi cuộc đời từ bên trong, theo lý tưởng men trong bột. Họ phải sống giữa trần gian và dấn thân vào tất cả mọi sinh hoạt trần thế với ý hướng biến đổi và thánh hóa môi trường sống đó từ bên trong. Nói cách khác, “giáo dân được đặc biệt mời gọi giúp Giáo hội hiện diện và hoạt động trong tất cả những nơi và tất cả hoàn cảnh mà Giáo hội chỉ có thể trở thành muối trần gian nhờ sự trung gian của giáo dân”.
Gắn bó với quê hương dân tộc
Từ năm 1980, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã công bố thư Mục Vụ: ‘Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc’. Với quan điểm này, Giáo Hội Việt Nam đã sống vận mệnh của người dân trong nước xã hội chủ nghĩa một cách tích cực nhất. Nếp sống ‘men trong bột’ này dần dần đã làm cho Nhà Nước ngày càng đánh giá tích cực hơn những đóng góp của Giáo Hội và Kitô hữu công giáo tại Việt Nam.
“Tuy nhiên khi đề cập đến bản chất tôn giáo, các tác giả nói trên vẫn có những cái nhìn sơ cứng và vẫn lặp lại những công thức cũ như tôn giáo là thuốc phiện mê dân, là công cụ của đế quốc. Rất mừng là trong mấy năm gần đây bắt đầu có những cái nhìn tích cực hơn về bản chất tôn giáo”.
Từ đó, người giáo dân càng ngày càng sống sứ vụ của mình
một cách minh nhiên hơn, đặc biệt là chăm sóc cho những người bất hạnh. Rất
nhiều giáo dân là những người tiên phong chăm lo cho người phong trong thâp
niên 80, và cho người nhiễm HIV - AIDS vào giữa thập niên 90 cho đến nay.
Đào tạo chất xám
Qua tiêu đề ‘Đào tạo chất xám’ linh mục Nguyễn Thái Hợp trình bày thực trạng về trình độ học vấn rất thấp của người dân và những vấn đề nan giải trong hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học tại Việt Nam. Để minh họa, cha đưa ra những con số thống kê chính thức làm nổi lên một viễn ảnh rất đáng lo ngại cho thế hệ ngày mai, rồi đi đến nhận định này:
“Đối diện với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, tỷ số sinh viên Việt Nam theo học Cao đẳng và Đại học quá thấp. Kết quả kỳ thi Đại học trong hai năm qua còn cho thấy thực trạng “khủng khiếp” về chất lượng giáo dục, với căn bệnh trầm kha thi đua “đạt chỉ tiêu”, được hỗ trợ bởi phương pháp dạy nhồi nhét, học vẹt, học tủ, quay cóp... Thêm vào đó, còn hiện tượng bằng giả, thi hộ hay mua điểm. Phải chăng từ mấy chục năm qua chúng ta đã bị ru ngủ với lối học dỏm, thi cử dỏm, bằng cấp dỏm hay bi đát hơn bằng cấp thật mà kiến thức dỏm?”
Từ thực trạng đó,
cha đã kết luận phần này bằng cách nêu lên một thách thức cho người giáo dân:
“Hơn bao giờ hết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng đòi hỏi chúng ta phải hiểu biết những biến đổi sâu xa của toàn cầu hóa, đồng thời ý thức rõ rệt những thách đố mà khoa học kỹ thuật đang đặt ra cho công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á châu hôm nay. Để thực sự đồng hành với dân tộc trong thời đại toàn cầu hoá này và để giúp dân tộc đồng hành với nhân loại hôm nay, chúng ta phải cương quyết chống hai thứ giặc đang nhục mạ dân tộc, đó là nghèo đói và lạc hậu.”
Trong cộng đoàn Dân Chúa
Nhìn dưới góc độ văn hoá, chữ “giáo dân” khá hàm hồ. Có thể hiểu theo hai nghĩa: người dân có đạo hay “đám tín đồ lê dân”. Thông thường người ta đã hiểu giáo dân theo nghĩa sau cùng này và được dùng theo nghĩa đối lập với “giáo sỹ”. Vô hình trung, không hiểu do duyên nợ nào mà sự phân biệt giữa quan và dân theo truyền thống Nho giáo đã lẻn vào lòng Giáo hội. Từ đó giữa những người có “Đạo” với nhau, cùng chia sẻ một niềm tin, cùng tôn thờ một Chúa, lại có sự phân biệt cơ bản giữa quan quyền với lê dân!
Người giáo dân Việt Nam rất quý trọng “thánh chức” và yêu mến đời sống tu trì. Đó là một tâm tình và một món quá rất quý báu mà giáo sỹ nên đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn. Điều bất bình thường là một số linh mục hình như vẫn viện dẫn “chức thánh của mình” để đòi hỏi được vâng lời và tôn trọng, mà quên đi ý nghĩa phục vụ theo tinh thần Phúc Am và tình huynh đệ giữa tất cả các môn đệ Đức Kitô theo tinh thần của công đồng Vatican II. Não trạng này đã làm cho không ít giáo sĩ trở thành một thứ quan quyền, tách biệt với chúng sinh. Nhưng phải chăng, trong nhiều trường hợp, chính các giáo dân đã biến giáo sỹ thành những “ông quan”?[1].
Theo ý kiến của một số người, đã đến lúc cần rà soát lại lối xưng hô, mối tương quan và cách thế làm việc chung giữa giáo dân và giáo sỹ không còn thích hợp với thời đại. Để trả lời thỏa đáng cho những thách đố mà thời đại và đất nước đang đặt ra, Giáo hội cần đưa ra một đường hướng mục vụ thích hợp và động viên tinh thần làm việc chung của tất cả cộng đoàn Dân Chúa. Trong viễn tượng đó, dĩ nhiên những cái nhìn cục bộ và lối phân chia nhỏ nhen giữa Bắc – Trung –Nam, Triều – Dòng, Giáo sĩ – Giáo dân ... trở thành vừa vô nghĩa và vừa phi lý.
Đứng trên phương diện thần học, Công đồng Vatican II đề cao tính liên đới và sứ vụ riêng của mỗi thành phần Dân Chúa : tất cả các kitô hữu đều “bình đẳng trong sự công chính của đức Kitô” và đồng trách nhiệm trước sứ vụ rao giảng Lời Chúa. Bốn mươi năm sau nhìn lại, nhiều xác quyết về cộng đoàn Dân Chúa, về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân ... có lẽ vẫn nằm yên trên văn bản. Chức vụ “tư tế chung” của tất cả các tín hữu, chẳng hạn, có giá trị gì và trong thực tế đã thực hiện như thế nào ở Việt Nam? Đâu là tương quan giữa tư tế cộng đoàn với chức vụ tư tế thừa tác của các linh mục? Sứ vụ “vương giả” cũng như vai trò “chủ động” của giáo dân đã được thể hiện như thế nào trong đời thường và trong sinh hoạt giáo xứ ?
Trong suốt bốn mươi năm qua, tại nhiều nơi trên thế giới, giáo dân đã bắt đầu thực hiện sứ vụ ngôn sứ, tư tế và vương gỉa của mình, bằng nhiều cách thế và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Tại một vài nơi, khi vắng bóng linh mục, chính người giáo dân điều khiển việc cử hành phụng vụ Lời Chúa, làm thừa tác Thánh thể, thừa tác viên bí tích thánh tẩy, hôn phối. Một số giáo dân đảm nhận chức vụ tuyên úy bệnh viện, nhà tù, giáo lý viên, thành viên Hội đồng Mục vụ, Chưởng ấn tại các giáo phận, giáo sư tại các phân khoa thần học hay các Đại Chủng viện.. . Cũng chính giáo dân đảm trách việc quản trị kinh tế trong giáo xứ cũng như giáo phận[2]
Nhưng tại Việt Nam thì sao? Đâu là vai
trò và sứ vụ của giáo dân Việt Nam? Người giáo dân có vị trí và trách vụ nào
trong sinh hoạt giáo xứ và tổ chức cộng đoàn? Đã thực sự có sự đối thoại chân
thành giữa giáo dân và giáo sỹ chưa? Người giáo dân đã ý thức ơn gọi của mình
và can đảm lãnh trách nhiệm, hay vẫn tồn tại thái độ phục tùng chỉ biết thụ
động chờ lệnh trên, rồi khi không vừa ý cũng chỉ biết ta thán là tại trên không
ra lệnh hay không biết dùng người? [3].Trong
thời gian qua, có nhiều giáo dân đã thành công trong các lãnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội, khoa học, nghệ thuật,v.v.. Nhưng họ đã trở thành trí thức Công
giáo chưa? Nếu chưa, đâu là nguyên nhân và làm sao để đào tạo các giáo dân trí thức ? Đó là những câu hỏi nhức
nhối đang đặt ra cho chúng ta, giáo dân cũng như giáo sỹ?
Chương trình đào tạo chiều sâu
Một trong những điểm nổi của Giáo hội Việt Nam là lòng sùng đạo, tổ chức giáo xứ, hội đoàn, kinh lễ, rước xách sầm uất ... Khi có dịp viếng thăm Việt Nam, nhiều người nước ngoài thường ca ngợi “lòng sùng đạo” của dân ta. Tuy nhiên, nếu bình tâm suy nghĩ chúng ta sẽ không khỏi băn khoăn tự hỏi: đó là lối giữ đạo theo tập tục cổ truyền hay đường hướng sống đạo theo tinh thần Vatican II?
Thiết tưởng đã đến lúc cần nghĩ đến các trung tâm tĩnh tâm và đào sâu chiều kích tâm linh. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường... càng làm cho con người dễ bị phân tâm, lôi cuốn, chạy theo ham muốn và mời mọc của tiền tài, danh vọng, sắc dục. Sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật là yếu tố tích cực trong lịch sử nhân loại. Nhưng nó như con tuấn mã bất kham, cần được thuần hóa và hướng dẫn. Rất tiếc là người kỵ sĩ hiện tại quá yếu, không đủ khả năng để thuần hóa một con ngựa chứng quá mạnh.
Hơn bao giờ hết thế giới, và đặc biệt là giới trẻ hôm nay, đang yêu cầu chúng ta đặt nổi chiều kích tâm linh, trở thành những con người tôn giáo đích thực, những người có kinh nghiệm bản thân về mối tương quan thân tình với Chúa, về giải thoát tâm linh và niềm an vui nội tâm. Tuyên bố bế mặc Đại hội lần thứ 7 của Liên hiệp Hội đồng Giám mục Á châu đã sáng suốt đưa ra một tầm nhìn và “chuyển hướng đặt nổi tính nội tâm sâu xa ngõ hầu Giáo hội trở thành một cộng đoàn cầu nguyện sâu xa, trong đó chiêm niệm nối kết hài hòa với bối cảnh thời đại và các nền văn hóa của dân tộc. Gắn liền với đời thường, cầu nguyện đích thực phải làm phát sinh nơi các tín hữu chứng từ trong sáng về yêu thương và phục vụ”.
Chương trình đào tạo thần học chiều sâu cho giáo dân và
chương trình mục vụ chuyên biệt cho từng ngành nghề trở thành nhu cầu khẩn cấp.
Hơn bao giờ hết, lời tâm huyết sau đây của đức Gioan Phaolô II phải trở thành
ưu tiên mục vụ của chúng ta: “Tôi xin hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đề nghị thành lập ở cấp giáo phận hay cấp quốc gia những trung tâm đào tạo
giáo dân, để chuẩn bị họ làm công việc thừa sai như những chứng nhân cho Đức
Kitô tại Á Châu ngày nay” (EA 45c).
Bao giờ phượng hoàng vỗ cánh?
Thư Mục vụ năm 2003 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi mọi người Công giáo mạnh dạn dấn thân vào những môi trường mới để loan báo Tin Mừng: “Có thể đó là những môi trường địa lý chưa bao giờ được nghe rao giảng Tin Mừng, những vùng đất chưa in dấu chân nhà truyền giáo. Đó là những môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật … Đó là những lãnh vực cần có sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội Thánh và ánh sáng của tin Mừng. Hãy đến với những con người chưa được nghe rao giảng Tin Mừng, hoặc đã nghe mà chưa sống Tin Mừng. Hãy hiện diện trong mọi môi trường của nhân loại, vì không có gì của con người mà xa lạ với Hội Thánh”. (Hội đồng Giám mục Việt Nam, Sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội thánh VN hôm nay, 10.10.2003, số 8.)
Tất cả
chương trình đẹp đẽ và lớn lao ở trên sẽ chẳng đem lại kết quả mong muốn nếu
không có sự tham gia tích cực của giáo dân. Nhưng giáo dân chúng ta đã được
chuẩn bị như thế nào? Có thể lên đường hay chưa? Và sẽ đảm nhận sứ vụ loan báo
Tin Mừng như thế nào?
[1] Trên thực tế, nghi lễ trao ban thừa tác vụ
linh mục thường được gọi là lễ phong chức, với đầy đủ lễ nghi chúc mừng, chiêu
đãi, ăn khao. Có nơi cũng rước tân chức... na ná như ngày xưa rước quan trạng
về làng. Tại một số nơi, song thân của các linh mục thường được gọi là Ong Bà
Cố. Và anh chị em của linh mục cũng được
“thăng quan tiến chức”, cho lên họ nhà quan. Từ đây được gọi là: quan bác,
quan chú, quan cô…
[2] Xem Bernard Sesboé, N’ayez pas peur! Regards sur l’Eglise et le
ministres aujourd’hui, Paris, 1996.
[3] Xin coi Phan Đức Thông, « Sự trưởng thành của Giáo dân Việt Nam
tại hải ngoại », trong Diễn Đàn Việt Nam, số 48, tháng 3 năm
1995 ; Tuyển tập Tin Nhà, Hai Ngàn Năm Một Thuở. Chứng từ của một
số người công giáo, Tin, Paris, 2000 ; Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, số
10, tháng 8 năm 2002 (về Đại hội LĐCGVN tại Hoa Kỳ kỳ VI) ; một số bài
trên WWW.tiengnoigiaodan.net